Lậu Hoặc Là Gì

NSGN - Lậu hoặc là nhân đưa đến đau khổ và luân hồi sinh tử triền miên.

Bạn đang xem: Lậu hoặc là gì

Đó là lý do vì sao người tu giải thoát cần đoạn trừ lậu hoặc.



Sinh hoạt của Tăng-già Nam truyền

Lậu là tên gọi khác của phiền não (tham, sân, si).

Lậu là âm Hán, nghĩa thứ nhất là chảy ra. Vì loài hữu tình trong ba cõi, thông qua sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý chảy ra phiền não không ngừng, nên gọi là lậu. Nghĩa thứ hai là lưu, là rơi rớt. Vì loài hữu tình do nó mà lưu lại trong ba cõi, không thể giải thoát, nên gọi là lậu. Nghĩa thứ ba là sót mất. Vì do đây mà bỏ mất chánh đạo, nên gọi là lậu.

Hoặc là mê mờ. Do mê cảnh mà điên đảo sự lý nên gọi là hoặc. Do mê lầm đối với cảnh được nhận biết mà sinh phiền não, nên gọi là lậu hoặc.

Muốn không phiền não, muốn giải thoát thì phải hàng phục cho được phần lậu hoặc này.

Trong kinh Trung bộ I, Phật dạy 7 cách giúp phòng hộ và diệt tận lậu hoặc: “Này các Tỷ-kheo! Có những lậu hoặc phải do tri kiến mà được đoạn trừ. Có những lậu hoặc phải do phòng hộ mà được đoạn trừ. Có những lậu hoặc phải do thọ dụng mà được đoạn trừ. Có những lậu hoặc phải do kham nhẫn mà được đoạn trừ. Có những lậu hoặc phải do tránh né mà được đoạn trừ. Có những lậu hoặc phải do trừ diệt mà được đoạn trừ. Có những lậu hoặc phải do tu tập mà được đoạn trừ”. Nếu y cứ vào nghĩa của lậu hoặc là do mê cảnh mà sinh tham sân si, thì 7 pháp giúp diệt tận lậu hoặc chính là: Phải trang bị cho mình loại tri kiến mà tri kiến này giúp trừ bỏ mê lầm và tham, sân, si. Phải có sự phòng hộ mà sự phòng hộ này giúp trừ bỏ mê lầm và tham, sân, si. Phải có sự thọ dụng mà sự thọ dụng này giúp diệt trừ mê lầm và tham, sân, si. Phải có sự kham nhẫn mà sự kham nhẫn này giúp trừ bỏ mê lầm và tham, sân, si. Phải có sự tránh né mà sự tránh né này giúp trừ bỏ mê lầm và tham, sân, si. Phải có sự trừ diệt mà sự trừ diệt này giúp trừ bỏ mê lầm và tham, sân, si. Phải có sự tu tập mà sự tu tập này giúp trừ bỏ mê lầm và tham, sân, si. Trừ bỏ từ phần hiện hành cho đến phần chủng tử, nói chính xác là soi thấu thực chất của những chủng tử ấy.

Tri kiến giúp đoạn trừ lậu hoặc

Một chàng trai thuộc gia đình khả kính sống ở thành Xá-vệ, vào rừng kiếm con bò bị lạc. Sau khi tìm ra bò, anh đói quá bèn tìm đến tinh xá xin thức ăn. Ăn xong anh nhận ra rằng, dù lao động vất vả anh cũng không thể kiếm ra thức ăn ngon như ở tinh xá, ở đó lại không phải lao động cực nhọc, vì thế anh xin xuất gia.1

Sau khi xuất gia, ăn uống no đủ phì béo rồi, anh lại chán đời sống khất thực và muốn hoàn tục. Hoàn tục rồi, làm việc cực nhọc, thân thể tiều tụy, anh lại muốn xuất gia. Xuất gia xong, lại bất mãn và hoàn tục. Do khi còn trong Tăng chúng, anh thường làm việc chăm chỉ và hay giúp đỡ mọi người, nên dù xuất và hoàn đến sáu lần, anh vẫn được chấp nhận trở lại. Và anh được đặt tên là Cittahattha. Cittahattha, có nghĩa là người bị tâm sai sử.

Lần thứ bảy, khi trở về nhà, lòng đang phân vân ray rứt vì việc hoàn tục của mình, thì trông thấy vợ đang có thai nằm ngủ, miệng mở toang hoác, ngáy vang trời, nước miếng nhễ nhãi, trông chẳng khác gì một tử thi đang trương phồng. Anh nhận ra mọi thứ ở thế gian đều vô thường và đau khổ, thứ gì cũng có thể thay đổi. Thấy rồi, anh nắm chiếc y vàng chạy vội về tinh xá.

Trên đường đi, anh ôn lại câu “Các pháp trong thế gian đều vô thường, trói buộc, trong đau khổ” và chứng quả Dự lưu. Nhưng đợt này khi xin gia nhập lại Tăng đoàn, anh bị từ chối quyết liệt. Anh phải năn nỉ mới được trở lại. Vài ngày sau, anh đắc quả La-hán.

Thấy xuất gia được ăn ngon, mập mạnh mà không cần phải làm lao động cực nhọc, hay thấy thân thể bất tịnh của vợ mà nhận ra sự vô thường v.v… đều gọi là tri kiến. Tri kiến là thấy biết. Có loại tri kiến dẫn con người vào chỗ bất thiện, không tránh được phiền não và khổ nạn trong hiện tại và tương lai, như loại tri kiến đầu của chàng thanh niên. Tuy nhờ nó anh vào Tăng đoàn, nhưng vì tri kiến ấy mang tính tham dục nên cũng chính nó khiến anh ra khỏi Tăng đoàn, tăng thạnh tham dục. Có loại tri kiến dẫn con người vào Thánh đạo, như tri kiến vô thường của chàng thanh niên. Nó chính là loại tri kiến đang được đề cập ở phần này. Đó là loại tri kiến giúp diệt tận phiền não. Vì nó hình thành do “như lý tác ý”. Nhờ nó mà mê lầm chấm dứt và tham, sân, si hoại diệt. Nhờ nó mà chàng trai chứng Thánh quả.

Như lý tác ý là y như cái lý đang chi phối thế giới này mà hình thành nên tư tưởng chủ đạo của mình. Như lý nào? Như lý Nhân duyên, Nhân quả, gọi chung là lý duyên khởi. Vì sao có hiện tượng duyên khởi? Vì tánh các pháp là không. Do tánh pháp là không nên mới có hiện tượng duyên khởi. Nếu tánh pháp là có thì pháp sẽ tự có và thường trụ, không cần nhân duyên sinh. Nhưng thực tế ở thế gian, tất cả đều do duyên sinh. Nên biết, pháp không có tánh. Tu hành chính là làm sao thấy cho thấu được mặt duyên khởi này (triển khai thành nhân duyên, nhân quả). Tế hơn nữa, là soi cho thấu cái gọi là bản chất của duyên khởi. Bởi duyên khởi chỉ mới là mặt hiện tượng của pháp. Còn mặt bản thể của pháp, chính là tánh không. Tánh không, là tên khác của Phật tánh. Phật tánh là nhân, thành tựu quả vị Phật là quả2. Nên cổ đức nói: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”.

Cũng do tánh vạn pháp là không nên mới có hiện tượng vô thường. Người phụ nữ, nếu có định tánh thì ngày trước cô ta thế nào, ngày sau cô ta cũng thế đó, không thể đẹp trở thành xấu, sạch trở thành bẩn v.v… Nhưng vì pháp thế gian không có định tánh, nên đẹp có thể thành xấu, sạch có thể thành bẩn. Tư tưởng hay tri kiến của người đời cũng vậy. Có thể thay đổi theo thời gian. Cái thay đổi đó biểu hiện cho sự vô thường. Vì chúng lệ thuộc vào duyên. Chàng trai xuất gia mà không yên, vì tri kiến của anh gắn liền với sắc dục của vợ. Khi duyên ấy thay đổi, tri kiến anh cũng thay đổi theo. Thay đổi theo chiều “như lý tác ý” nên tham ái được trừ diệt và anh chứng Thánh quả.

Trong các kinh thuộc hệ A-hàm, quả vị lậu tận chỉ dừng ở A-la-hán hay Bích Chi Phật. Thức chỉ mới đề cập đến sáu thức, chưa nói đến thức thứ bảy, thứ tám; cũng chưa nói đến Phật tánh hay Tri kiến Phật; Trung đạo là Bát chánh đạo. Vì thế, phần tri kiến như lý tác ý có thể giúp hành giả chứng nhập Tứ quả không đòi hỏi phải là tri kiến về Phật tánh, Tánh không duyên khởi, hay phần Trung đạo nói trong luận Trung quán hay Bát-nhã. Chỉ cần trang bị Tri kiến khổ, không, vô thường, vô ngã, Tứ đế, Thập nhị duyên sinh3 là đã có thể diệt tận phần lậu hoặc giúp đạt Thánh quả A-la-hán hay Bích Chi Phật. Kinh Thắng Man gọi phần lậu hoặc này là Tứ trụ địa phiền não4. Đó là Kiến trụ địa phiền não và Ái trụ địa phiền não thuộc ba cõi. Tứ trụ địa phiền não lấy Căn bản vô minh trụ địa làm nền tảng. Muốn diệt trừ phần Căn bản vô minh này, đòi hỏi hành giả phải trang bị cho mình loại tri kiến Trung đạo mà Bát-nhã hay Trung luận đã đề cập, kinh Pháp hoa gọi là Tri kiến Phật.

Phần tri kiến giúp diệt tận lậu hoặc này, thấy có tác dụng mau chậm là tùy vào túc căn của từng người. Mau, như chàng thanh niên, nhận ra lẽ vô thường và chứng quả A-la-hán sau đó vài ngày, là do đời trước công phu đã thuần thục, chỉ vì “ra đời cách ấm còn mê” nên phiền não tham dục hiện khởi. Chỉ cần hiện khởi loại Tri kiến như lý tác ý, lậu hoặc liền chấm dứt. Như Lục tổ Huệ Năng, chỉ cần nghe một câu kinh, liền đốn ngộ tự tâm. Đều do căn lành đời trước đã thuần thục.

Với người mà túc căn chưa sâu dày thì dù tri kiến như lý tác ý đã xuất hiện, trên sự vẫn cần dùng các pháp khác để diệt trừ lậu hoặc. Đó là lý do có đến 7 pháp giúp diệt trừ lậu hoặc, không phải chỉ có phần tri kiến này. Song phần tri kiến như lý tác ý này là nền tảng để các pháp còn lại có điều kiện được phát huy. Vì không có tri kiến về Tứ đế v.v… thì không biết đường để phòng hộ hay tu tập.

Phòng hộ giúp đoạn trừ lậu hoặc

Phòng hộ nói đây là phòng hộ sáu căn khi tiếp xúc với sáu trần.

Vì sao phải phòng hộ? Vì sáu căn là nơi có thể giúp hiện khởi tập khí tham dục, sân giận, ngu si. Cũng là nơi tiếp giáp thu nhận vào tạng thức những chủng nhân mới, có thể gây chướng ngại cho sự tu tập, giải thoát. Đó là lý do cần phòng hộ sáu căn.

Con trai vị chưởng khố Soreyya, trên đường ra ngoại thành tắm cùng bạn bè thì gặp Tôn giả Đại Ca-chiên-diên. Thân thể vàng óng của Trưởng lão đập vào mắt Soreyya khiến anh buộc miệng: “Ồ phải chi Trưởng lão này là vợ ta. Phải chi vợ ta có nước da như thế.”5 Do không phòng hộ con mắt nên tri kiến tham dục dấy khởi. Từ đó nảy sinh thêm các bất thiện pháp. Kẻ phòng hộ giỏi thì khi mắt thấy, chỉ là thấy, không để dục niệm dấy khởi. Lỡ dấy khởi rồi thì tỉnh giác, sám hối, không cho nối tiếp.

Nếu phản quan tốt sẽ nhận ra rằng, nếu không phòng bị sáu căn của mình cho kỹ, dễ sinh phiền não vô cùng. Nhìn những vật dụng của mình bám đầy bụi nhơ và bị đảo lộn thường sinh nóng giận. Lời ngang khiến mình sinh bực, lời thuận khiến mình sinh vui v.v…Thứ gì nếu không phòng bị đều khiến tâm luôn sinh khởi, không thể ở thế Trung đạo.

Mắt không thể thấy những gì xảy ra sau lưng và trong bóng tối, nhưng tai vẫn nghe những gì nó không thể thấy trong tầm nó có thể nghe. Kinh Lăng nghiêm phân nhãn căn chỉ có tám trăm công năng mà nhĩ căn đến một ngàn hai trăm công năng. Vì thế, nhĩ căn có nhiều điều kiện cần chú ý và phòng hộ hơn.

Xem thêm: 34 Tuổi Có Làm Nhà Được Không Theo Phong Thủy Dương Trạch? Tuổi Mậu Thìn 1988 Có Nên Xây Nhà Năm 2021

Thời Phật còn tại thế, buổi sáng chư Tỷ-kheo đắp y vào thành khất thực. Trước khi vào thành, chư Tỷ-kheo ghé qua vườn của các du sĩ ngoại đạo. Một du sĩ ngoại đạo đã nói: “Sa-môn Gotama nêu rõ sự hiểu biết về các dục, chúng tôi cũng nêu rõ sự hiểu biết về các dục. Sa-môn Gotama nêu rõ sự hiểu biết về các sắc pháp, chúng tôi cũng nêu rõ sự hiểu biết về các sắc pháp. Sa-môn Gotama nêu rõ sự hiểu biết về các cảm thọ, chúng tôi cũng nêu rõ sự hiểu biết về các cảm thọ… Vậy, chư hiền, ở đây có sự khác biệt nào, có sự đặc thù nào giữa chúng tôi và Sa-môn Gotama trong vấn đề thuyết pháp hay giảng huấn?”

Các Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ cũng không chỉ trích, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi với ý nghĩ: “Chúng ta sẽ học ý nghĩa này từ Thế Tôn.”6 Giữ tâm không hoan hỷ cũng không chỉ trích, không tranh cãi cũng không khó chịu, và chỉ học điều cần biết ở vị Đạo sư của mình, là một cách phòng hộ nhĩ căn.

Thời Phật còn tại thế, Tôn giả Moliyaphagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni một cách quá độ7.Nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt Tôn giả nói xấu về các Tỷ-kheo-ni, Tôn giả liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội. Nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt các Tỷ-kheo-ni nói xấu về Tôn giả Moliyaphagguna, các Tỷ-kheo-ni liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội. Một Tỷ-kheo đã đến trình với Thế Tôn về việc đó và Thế Tôn cho mời Tôn giả đến xác minh về những gì ngài đã được nghe. Sau khi xác minh việc đúng như vậy, Thế Tôn dạy: “Này Moliyaphagguna! Ông hãy từ bỏ những dục và tư duy liên hệ đến thế tục. Ông phải học tập như sau: ‘Mong rằng tâm của ta sẽ không bị biến nhiễm, ta sẽ không nói lời ác. Mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, không ôm lòng sân hận…’”. Đó là cách Phật dạy Tôn giả Moliyaphagguna phòng hộ nhĩ căn của mình, không chỉ phòng hộ nhĩ căn mà phòng hộ cả ý căn và ngữ nghiệp, bằng cách khởi lên những tri kiến như lý tác ý.

Trong Khóa hư lục giảng giải, Hòa thượng Trúc Lâm có kể câu chuyện về một Sa-di ngang qua hồ sen, thấy hương thơm liền đứng lại thưởng thức. Bị Địa thần quở. Ngay lúc đó, có mấy người ào xuống hồ, kẻ hái gương, người nhổ ngó. Thấy vậy Sa-di hỏi Địa thần: “Tôi chỉ ngửi một chút hương ông đã quở, còn những người kia bẻ gương móc ngó, sao ông không rầy?” Địa thần nói: “Như người mặc chiếc áo trắng, chỉ cần dính một điểm mực nhỏ đã thấy nhơ. Còn người mặc áo đen, dính một bệt mực nữa cũng không thấy. Ông là người tu hạnh thanh tịnh, ngửi một chút hương sen là đã nhơ. Còn các người kia là kẻ phàm tục, không tu hành, dù họ có làm những điều tội lỗi cũng như vệt mực phết lên áo đen. Nên tôi rầy ông mà không rầy họ”. Không tu hay chỉ tu phước cầu vui, không đòi hỏi phải phòng hộ các căn như người tu giải thoát. Bởi muốn giải thoát thì lậu hoặc phải diệt tận. Cho nên cần phòng hộ các căn. Các căn được phòng hộ kỹ thì không tạo nhân duyên cho tập khí sinh khởi, cũng không tạo nhân duyên thu nhận thêm những chủng nhân làm chướng ngại việc giải thoát. Không phòng hộ được thì căn chính là nơi khiến chúng sinh lưu chuyển trong sinh tử. Trong kinh Lăng nghiêm, Phật nói: “Sáu thứ mắt tai mũi lưỡi thân ý làm mai mối cho giặc, cướp hết gia bảo của ông. Do đây từ vô thủy, thế giới chúng sinh sinh ra ràng buộc, không thể vượt khỏi sự vật thế gian.” Phòng hộ được thì ngay đó là giải thoát.

Đối với tỷ căn và thân căn cũng vậy. Những gì có nguy cơ làm tăng trưởng tham hay sân, đều nên có tâm phòng hộ. Thân một khi làm việc nhọc quá khiến sinh căng thẳng, sân hận, thì phải biết dừng lại, làm việc vừa sức mà phòng hộ. Ăn nếu có khuynh hướng nảy sinh tham dục, sinh mê muội v.v… cũng phải biết mà dừng lại. Đó gọi là phòng hộ. Nói chung, những gì có khuynh hướng khiến tham, sân, mê muội nảy sinh từ các căn, đều phải biết mà phòng hộ. Đó gọi là phòng hộ các căn đoạn trừ lậu hoặc.

Thọ dụng giúp đoạn trừ lậu hoặc

Phật dạy: “Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo như lý giác sát, thọ dụng y phục, chỉ để che đậy sự trần truồng, ngăn ngừa lạnh, nóng, xúc chạm của các loài côn trùng. Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng món ăn khất thực không phải để vui đùa, đam mê, trang sức, hay tự làm đẹp mình. Chỉ là để thân này được dài lâu, để thân này khỏi bị hại thương, để hỗ trợ phạm hạnh...”. Như vậy thọ dụng nói đây là đối với việc ăn mặc. Ăn mặc sao cho tham dục và sân hận không tăng trưởng. Mục đích của việc thọ dụng này là để hỗ trợ phạm hạnh. Đây là chỗ khác với người đời, ăn là phải ngon, mặc là phải đẹp, là chỗ hướng đến của người đời.

Như lý giác sát, là y theo lý mà tỉnh giác quán sát xem ăn thế nào để đưa đến giải thoát, không phải ăn để ngày càng bị trói buộc. Hạnh đầu đà chỉ ăn một bữa vào đúng ngọ và không cho ăn phi thời, là để giảm sự trói buộc trong việc ăn uống.

Ngày nay, vì căn nghiệp chúng sinh không được như người xưa nên việc ăn uống có thay đổi. Nhưng muốn giải thoát, muốn việc thọ dụng trở thành hỗ trợ cho việc tu hành thì tinh thần chính Phật dạy không thể quên. Đó là ăn để có sức mà tu, ăn để hỗ trợ cho phạm hạnh, không phải ăn để thỏa mãn cái lưỡi, không phải ăn để làm đẹp, cũng không phải ăn để có sức vui đùa... Tức ăn vừa đủ, không để tham dục dấy khởi, không để phải gật gù trong các thời tọa thiền. Cũng không ăn quá thiếu khiến thân thể lao nhọc, không thể ngồi thiền, cũng không thể lao tác, đầu óc trở nên mù mờ, mất định tĩnh.

Những gì dù ngon mà khiến thân thể mệt nhọc, bệnh hoạn, sinh dục v.v… đều phải từ bỏ.

Song người tu thời nay, khi phước báu đến thì tinh thần chính của việc thọ dụng thường bị đánh mất. Chúng ta dành hầu hết quỹ thời gian cho việc ăn uống, mất thời gian vào việc ăn uống khá nhiều. Không phải chỉ ăn cho đủ chất mà ăn sao cho vừa miệng, cho nhiều món, ngày càng cầu kỳ… Quên là ăn ngon không phải là mục đích của người tu. Quên là thích ăn ngon, thích ăn bổ là nhân duyên sinh ra tham dục và gốc nuôi dưỡng tham dục. Cho nên, hành giả tu giải thoát cần chú ý đến con đường Trung đạo. Trung đạo là không vướng bên này cũng không mắc bên kia. Không thiếu cũng không dư. Tùy duyên của mình mà ăn để không đánh mất tinh thần mà Phật đã dạy trong việc thọ dụng. Đã tùy duyên thì trên mặt hiện tướng, việc thọ dụng của người này không giống người kia. Người gầy thì phải dùng áo ấm nhiều hơn người có da thịt. Người lao tác nhiều thì phải ăn nhiều hơn người không lao tác, khi không lao tác cũng không thể ăn như khi đang lao tác v.v… tùy duyên của từng người mà việc thọ dụng có khác nhau. Nhưng đều mang tinh thần là thọ dụng sao cho phù hợp, cho vừa đủ với thân, khiến không tham trước cũng không sân hận.

Quan trọng thứ hai cần chú ý trong việc thọ dụng, là thói quen trong ăn uống. Nó là phần Tập nói trong Tứ đế. Đã như lý mà giác sát thì phải chú ý đến phần Tập này. Tập là sự tích tụ trong việc thọ dụng. Thứ gì tích tụ lâu sẽ thành thói quen. Những gì đã thành thói quen sẽ gây chướng ngại khi ta ăn hay mặc trái với thói quen ấy. Một khi ăn ngon mặc sướng quen rồi, cái ăn ngon mặc sướng ấy sẽ có lực làm chướng ngại cho việc thọ dụng đơn giản. Vì thế những thọ dụng nào mang tính tham dục chưa thành thói quen thì không nên để nó thành thói quen. Thọ dụng nào đã thành thói quen thì cần dùng nhẫn lực phá bỏ, chớ thuận theo đó mà sống, khiến sự tích tụ ngày càng nhiều, lực của thói quen ngày càng mạnh,việc trừ bỏ ngày càng khó.

Hành giả tu giải thoát, dù là xuất gia hay tại gia, khi phước báu đến nhiều, cần tỉnh giác phòng hộ trong việc thọ dụng. Nên thọ dụng vừa đủ. Chớ thọ dụng theo phước báu.

Các thứ thọ dụng khác như nhà ở, tọa cụ, thuốc men v.v… đều y đó mà giải quyết.

Kham nhẫn giúp đoạn trừ lậu hoặc

Nói đến kham nhẫn là nói đến những gì không thuận với ý mình. Ăn những món không hợp khẩu vị mà phải ăn. Mặc những thứ không thích mà phải mặc. Không chịu được lạnh mà trời lạnh. Không chịu được nóng mà trời nóng. Ruồi, muỗi, gián, nhện làm phiền. Đói phải chịu. Khát phải đành. Nghe những lời không muốn nghe. Gần những người không hợp. Xa những người thân thương v.v… rất nhiều thứ trong cuộc đời này hiện ra rất trái ý, mà không ít thì nhiều, ai cũng phải chịu. Bởi thế gian này có tên là Sa-bà. Nghĩa của nó là kham nhẫn. Sống ở cõi Sa-bà này thì ít nhiều gì cũng phải kham nhẫn mới tìm thấy niềm vui, mới thoát được sân hận. Người đời muốn có hạnh phúc còn phải như thế, huống là người tu giải thoát, phát tâm Bồ-đề vô thượng?

Chiêm nghiệm những gì xảy ra ở thế giới này mới thấy ý nghĩa của hai chữ Sa-bà rất chính xác. Cái gọi là bất như ý không theo một hình tướng nhất định nào. Cái như ý của người này có khi vẫn là bất như ý của người khác. Cho nên, ai cũng có thể bất như ý. Đói, khát, nghèo, hèn… bất như ý. Giàu sang, phú quý… bất như ý. Con bé, được cái tự do muốn làm gì thì làm, nhưng cơ cực. Cũng ao ước giàu sang cho đỡ tấm thân. Lấy được chồng giàu rồi, thân hết cực, lại mơ về những ngày còn nghèo. Nghèo, cực thiệt mà tự do, muốn làm gì làm. Thành ra con người của thế giới Sa-bà vẫn là con người của thế giới Sa-bà. Tướng dù thay đổi, tâm vẫn cứ bất như ý.

Giờ muốn yên ổn, muốn hạnh phúc thì phải nhẫn được với những bất như ý này. Song nhẫn thế nào để được an bình thật sự là cả một vấn đề. Vì không khéo, cái gọi là nhẫn đó chỉ là sự đè nén. Đè lâu thì có ngày bung, thân tướng cũng hiện tướng bất mãn với người, là cái nhân của xích mích, chia lìa. Tuy vậy, cái gọi là đè này vẫn nên thực hiện. Bởi nó giúp chúng ta dừng lực khởi của sân, dừng lực khởi của dòng tương tục. Thực hiện như thế gọi là Chỉ. Giờ bổ sung thêm phần Quán để giải tỏa sự đè nén đó.